I’M
  1. PlaygroundPlayground

MethodPhương pháp

One cycle,
not a straight line.
Một vòng lặp,
không phải một đường thẳng.

Most organisations separate research from product. We don’t. Each stage feeds the next, and the last stage feeds the first. This is the shape of everything we build.Phần lớn tổ chức tách nghiên cứu khỏi sản phẩm. Chúng tôi thì không. Chặng trước nuôi chặng sau, và chặng cuối lại nuôi chặng đầu. Mọi thứ chúng tôi làm đều có hình dạng này.

  1. 01

    ResearchNghiên cứu

    We start with questions, not with technology. Reading, mapping, measuring — building the ground truth before anyone proposes a solution.Chúng tôi bắt đầu từ câu hỏi, không từ công nghệ. Đọc, lập bản đồ, đo đạc: dựng nền dữ kiện thật trước khi có ai đề xuất lời giải.

  2. 02

    UnderstandingThấu hiểu

    What is the real problem? Who experiences it? Why does it exist? What would make it disappear? Most people describe symptoms. We look for causes.Bài toán thật là gì? Ai đang gặp nó? Vì sao nó có? Điều gì sẽ làm nó biến mất? Phần lớn mọi người mô tả triệu chứng. Chúng tôi tìm nguyên nhân.

  3. 03

    DesignThiết kế

    Only after understanding do we begin to design. The system, the workflow and the interface are decided together — not handed from one team to another.Hiểu rồi mới bắt đầu thiết kế. Hệ thống, workflow và giao diện được quyết cùng một lúc, không chuyền tay từ nhóm này sang nhóm khác.

  4. 04

    ProductSản phẩm

    Research without application is unfinished. Building is the fastest way to validate an idea, and real users are the only honest reviewers.Nghiên cứu chưa ứng dụng là nghiên cứu dang dở. Làm ra là cách nhanh nhất để kiểm chứng một ý tưởng, và người dùng thật là người nhận xét trung thực nhất.

  5. 05

    ImpactTác động

    Did decisions get better? Did skilled people get their time back? Did the organisation learn something it can keep? If not, the product is not done.Quyết định có tốt hơn không? Người giỏi có lấy lại được thời gian không? Tổ chức có học được điều gì giữ lại được không? Nếu chưa, sản phẩm chưa xong.

  6. 06

    New knowledgeTri thức mới

    Every project leaves behind something reusable — a method, a dataset, a model, a pattern. That becomes the starting point of the next question.Dự án nào cũng để lại thứ dùng lại được: một phương pháp, một bộ data, một model, một pattern. Đó là điểm xuất phát của câu hỏi tiếp theo.

  7. ↻

    Back to researchQuay về nghiên cứu

    Impact funds new research. Research produces new products. The loop is the point.Tác động nuôi nghiên cứu mới. Nghiên cứu sinh ra sản phẩm mới. Cốt lõi nằm ở vòng lặp.

Our way of workingCách chúng tôi làm việc

  • Research deeply.Nghiên cứu sâu.
  • Think systematically.Nghĩ có hệ thống.
  • Design intentionally.Thiết kế có chủ đích.
  • Build practically.Làm ra thứ dùng được.
  • Learn continuously.Học liên tục.
  • Repeat.Lặp lại.

Studio

What we do,
and what it produced.
Chúng tôi làm gì,
và đã làm ra những gì.

Most studios publish a list of skills. A list tells you what software somebody owns. It does not tell you what happens when those skills are pointed at a real problem — which is the only thing worth knowing before hiring anyone.Phần lớn studio đưa ra một danh sách kỹ năng. Danh sách cho biết ai đó có phần mềm gì, nhưng không cho biết chuyện gì xảy ra khi những kỹ năng ấy được đặt vào một bài toán thật. Mà đó mới là điều đáng biết trước khi chọn người cùng làm.

  1. 01

    Start from the problemBắt đầu từ bài toán

    Envelope performance. Layout and packing. Making and assembly. An options deadlock with no basis to choose. These are the four we keep being called about.Hiệu năng vỏ công trình. Bố trí và xếp đặt. Chế tạo và lắp ghép. Bế tắc giữa các phương án vì không có cơ sở để chọn. Đó là bốn chuyện người ta hay tìm đến chúng tôi nhất.

  2. 02

    Five skills, and the combinations matter moreNăm kỹ năng, và cách ghép chúng còn quan trọng hơn

    Parametric, geometry, optimisation, simulation, digital fabrication. Any one of them alone is a line on a website. Two or three pointed at one problem is a method — and the order they run in changes the answer.Parametric, hình học, tối ưu hoá, simulation, digital fabrication. Đứng riêng, mỗi thứ chỉ là một dòng trên website. Hai ba thứ cùng nhắm vào một bài toán thì thành phương pháp, và thứ tự chạy của chúng làm đổi câu trả lời.

  3. 03

    It runs backwards tooNó chạy ngược cũng được

    Drop a finished project in and it comes apart: which skills built it, what problem it answered, what got handed over, and the numbers it produced. A proposal and a completed project are the same description — one has measurements attached and the other says plainly that it does not.Thả một dự án đã xong vào, nó tách ra thành từng phần: kỹ năng nào làm nên nó, nó trả lời bài toán nào, cái gì được bàn giao, và nó cho ra những con số nào. Một đề xuất và một dự án đã xong là cùng một bản mô tả: một bản có kèm số đo, bản kia nói thẳng là chưa có.

Window Matrix

  • 288 cases: 72 geometries × 4 orientations.288 trường hợp: 72 hình học × 4 hướng.
  • Every one measured for incident radiation in threshold.Trường hợp nào cũng được đo incident radiation trong threshold.
  • Orientation alone, average case: 398 kWh at 0°, 1557 kWh at 270°.Chỉ riêng hướng, trường hợp trung bình: 398 kWh ở 0°, 1557 kWh ở 270°.
  • Nearly 4× from one parameter, before touching the shape.Gần gấp 4 lần chỉ vì một tham số, chưa hề đụng tới hình dạng.

Daylight

Your plan already
has a number in it.
Mặt bằng của bạn
đã có sẵn một con số.

Nobody has asked it yet. A floor plan is usually judged on area, circulation and cost — and then the building is finished, and the back half of the room turns out to run on electric light at noon in a country with more sun than it knows what to do with.Chỉ là chưa ai hỏi tới. Mặt bằng thường được xét theo diện tích, giao thông và chi phí; rồi công trình xây xong, và nửa trong của căn phòng hoá ra phải bật đèn lúc giữa trưa, ở một đất nước nắng nhiều đến thừa.

  1. 01

    Four numbers go inBốn con số đi vào

    Width, depth, how wide the window is and where it sits on the wall. That is the whole of what you draw. It is also, roughly, the whole of what gets decided in the meeting where a plan is signed off.Chiều rộng, chiều sâu, cửa sổ rộng bao nhiêu và nằm chỗ nào trên tường. Đó là tất cả những gì bạn vẽ. Đại khái, đó cũng là tất cả những gì được quyết trong buổi họp duyệt mặt bằng.

  2. 02

    Twenty come outHai mươi con số đi ra

    Wall reflectance, glazing transmittance, sensor height, occupied hours, sky model, ambient bounces. A simulation model is mostly decisions nobody was asked about, and they move the result as much as the shape does. This one prints all of them.Hệ số phản xạ của tường, độ xuyên sáng của kính, cao độ cảm biến, giờ sử dụng, sky model, số lần phản xạ ambient. Một simulation model phần lớn là những quyết định chẳng ai được hỏi, và chúng làm kết quả xê dịch không kém gì hình dạng. Model này in ra hết.

  3. 03

    And the answer is measured, not assertedVà câu trả lời được đo, không phải được khẳng định

    sDA300/50% — the share of the floor that clears 300 lux for at least half the occupied year. UDI100–2000 — the share of hours that land in the band where light is useful rather than absent or blinding. Both computed in Radiance, against a real weather file, before this page was written.sDA300/50%: phần diện tích sàn đạt 300 lux trong ít nhất một nửa số giờ sử dụng của năm. UDI100–2000: phần số giờ rơi vào dải mà ánh sáng hữu ích, không thiếu cũng không gây chói. Cả hai được tính trong Radiance, với file thời tiết thật, trước khi trang này được viết.

How the numbers got hereNhững con số này từ đâu ra

  • 180 room geometries × 4 orientations × 3 cities = 2160 cases, solved in Radiance 6.0.2.180 hình học phòng × 4 hướng × 3 thành phố = 2160 trường hợp, giải trong Radiance 6.0.2.
  • Two-phase daylight coefficient, Reinhart MF:1 sky, 146 patches.Daylight coefficient hai pha, bầu trời Reinhart MF:1, 146 patch.
  • 8760 hours of measured weather — Hanoi, Ho Chi Minh City, Seoul.8760 giờ thời tiết đo thực: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Seoul.
  • 12 × 12 sensor grid, 0.8 m above the floor, per case.Lưới cảm biến 12 × 12, cao 0,8 m trên mặt sàn, cho mỗi trường hợp.
  • The page interpolates between solved cases. It never invents one.Trang này nội suy giữa các trường hợp đã giải. Nó không bịa ra trường hợp nào.